Skip to content

Uy nghi người Phật tử (cập nhật 18/02/2016)

07.01.2014

Tâm Giác

Cập nhật 18/02/2016

Những điều chú ý khi đọc tài liệu này:

  1. Các thông tin trong bài đều do tôi sưu tầm và biên soạn từ nhiều tài liệu khác nhau, trong đó một số do bản thân tự duy luận và quan sát ra.
  2. Nội dung của bài có thể sẽ được cập nhật liên tục dựa vào quá trình tích lũy kinh nghiệm của tôi.
  3. Nếu bạn có thắc mắc chưa hiểu hoặc cho rằng lời tôi viết ra cần chỉnh sửa xin bình luận trực tiếp ngay dưới bài viết trong blog.
  4. Nội dung bài viết nhằm cung cấp các thông tin về những uy nghi, quy tắc cơ bản khi tới chùa cũng như những giải thích cơ bản về những quan điểm đang lưu truyền trong dân gian về đạo Phật cho người Phật tử tại gia hoặc không phải là Phật tử nhưng thích tìm hiểu về đạo Phật.
  5. Tôi viết bài nên không nhằm mục đích vụ lợi cá nhân mà với tâm chân thành mong giúp mọi người có cái nhìn đúng đắn về đạo Phật.
  6. Tôi viết bài này với danh nghĩa cá nhân, không đại diện cho một tập thể nào khác, mà cá nhân tôi cũng không thích tham gia vào đoàn thể nào cả, tự do tự tại thật là thích.
  7. Công đức này xin không nhận về mình mà hồi hướng cho toàn thể chúng sinh, cầu cho tất cả đều biết thực tập sống cuộc đời tỉnh thức!

Contents (post từ word nên có mục lục)

Mê tín- chánh tín    4

Đốt vàng mã    4

Cúng rượu thịt và ăn chay    5

Lễ Phật thì cầu điều gì?    6

Bàn chuyện thờ Mẫu    6

Hái lộc đầu năm    7

Viết sớ, cắt sao giải hạn    7

Việc phóng sinh    7

Tu học- Giáo lý    8

Quy y Tam bảo    8

Thọ trì Ngũ giới    9

Cách học Phật    10

Trì giới    11

Không được ngửi hoa cúng Phật    11

Không được nói lỗi người xuất gia    11

Người nữ không được quá thân cận người sư tăng    12

Đứng trước tượng Phật, Thánh Tăng không được phép ngồi    12

Không nói chuyện thế tục    12

Đốt, thắp nến    12

Đốt hương trầm    13

Tắm Phật như nào?    13

Trong lễ truyền trao giới luật hoặc tụng giới mà ta chưa thọ thì không được nghe    13

Làm việc gì cũng nên có hai người    13

Khi nào thì không cần làm lễ người tu hành    13

Sử dụng đồ trong chùa    13

Mặc áo màu gì    13

Nghe hiệu lệnh    14

Tư thế ngồi    14

Hoa cúng Phật    14

Xưng hô với người tu hành:    14

Chưa Quy Y không được đi vào trong hậu cung trên chính điện:    14

Đối xử với cho mèo, chuột, các loài súc sinh:    14

Vào chùa lễ ai trước:    15

Vào chùa từ cửa nào?    15

Vào chùa mặc quần áo như thế nào?    15

Đặt tiền lễ    16

Thắp hương    16

Đi lại trong chùa    16

Cầm kinh sách    16

Trau dồi kiến thức về kiến trúc Phật giáo    16

Ăn cơm trong chùa    16

Ứng xử với người tu hành    17

Chấp tác trong chùa    17

Giữ sự yên tĩnh cho chùa    17

Nam nữ tới chùa    17

Mặc áo pháp (áo tràng dài)    18

Để giày dép    18

Cách tụng Kinh    18

So sánh quy tắc ở các chùa với nhau    18

Người nữ đến ngày đó có được lên chùa không?    19

Nghi lễ    19

Nghe chuông    19

Đọc Kinh sách    19

Cách bày ban thờ Phật    19

Tác bạch    19

Mang các pháp khí, chuông mõ    20

Mê tín- chánh tín

Đốt vàng mã

Hàng ngàn năm trước ở Trung Quốc có tục chôn người sống cùng người chết vì tin rằng sang thế giới bên kia những người nô lệ này sẽ tiếp tục hầu hạ người chết đó. Tới thời Tần Thủy Hoàng thì thay chôn người chết bằng tượng đất nung, dần dần chuyển thành đốt vàng mã cho đỡ tốn kém. Tục lệ này du nhập dần vào VN và ăn sâu thành một tập tục không thể bỏ được. Có hai góc nhìn về việc đốt vàng mã này:

Xét về khía cạnh kinh tế đây là một sự tốn kém lãng phí vô cùng. Tư duy hơn một chút ta có thể thấy, nếu đốt vàng mã những người chết đều nhận được thì những người Tây khi họ chết đi rồi thì họ thành ma nghèo, ma đói chăng, vì họ đâu có đốt vàng mã và đâu có thờ cúng như mình. Nếu đứng trên quan điểm của đạo Phật thì có 10 cõi sau khi chết đi con người sẽ đi tới. Gồm có: Phật, Bồ Tát, Duyên giác, Thanh Văn, Trời, A tu la, người, súc sinh, ngã quỷ, địa ngục. Nếu như khi sống người ta làm nhiều điều ác hoặc không chịu khó tu tập tích đức thì thương bị đọa làm 3 đường ác là súc sinh, ngã quỷ, địa ngục chịu kiếp khổ sở, bị hành hình tra tấn trả oán cho những điều ác mình đã làm. Thế thì làm sao đốt vàng mã, cơm tiền những người đó có thể nhận được. Phải khẳng định rằng Phật giáo hoàn toàn không khuyến khích, cổ xúy việc đốt vàng mã.

Xét về khía cạnh đạo đức, dân tộc ta có truyền thống uống nước nhớ nguồn. Thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp văn hóa, đốt vàng mã đứng trên góc độ này cũng là một nét văn hóa. Đó là một cách con cháu thể hiện sự thương tiếc với những người đã mất, tuy phương pháp thể hiện có hơi lãng phí. Làm như thế tâm người sống sẽ được an lòng, à ta đã làm trọn vẹn rồi, hy vọng các cụ phù hộ cho gia đình mạnh khỏe, con cháu làm ăn phát đạt. Cũng có trường hợp chẳng thương tiếc gì đâu nhưng cố đốt vàng mã linh đình để thể hiện với làng xóm rằng ta là đứa con có hiếu thôi. Nếu việc thờ cúng tổ tiên và đốt vàng mã với cái suy nghĩ là ông bà đang ngồi trên bàn thờ nghe lời con cầu khẩn hay con đốt vàng mã này thì ông bà ở bên kia nhận được tiêu thì đó là mê tín. Nhưng nếu thờ cúng, khi ta thắp hương mà ta hiểu rằng không phải ông bà tổ tiên đang ngồi trên bàn thờ mà ở ngay trong chúng ta, chúng ta là sự tiếp nối của tổ tiên, của cha, của mẹ. Lúc ta thắp nén hương lên, tâm ta và thân ta cùng trở về với hành động đốt hướng, cùng dùng con mắt vô tướng để hiểu rằng ta là sự tiếp nối của tổ tiên, tổ tiên đâu có chết và không bao giờ chết, tổ tiên ở ngay trong chúng ta thì đây không phải là mê tín mà đây là một sự tỉnh thức. Con mắt vô tướng nghĩa là thấy rằng mọi vật đều không sinh và cũng không diệt mà chỉ là sự chuyển hóa. Ví như đám mây không thể chết được mà chỉ chuyển từ mây sang mưa. Cha ông ta trao truyền cho chúng ta hệ gen/ ADN, trao truyền cho chúng ta tư duy văn hóa, suy nghĩ. Nếu đưa bàn tay lên nhìn bằng con mắt vô tướng thì ta thấy rằng những tế bào của cha ông đang nảy nở trong chính chúng ta.

Ở đây có một mối liên hệ chặt chẽ giữa tuệ giác của đạo Phật với việc thờ cúng tổ tiên. Dùng con mắt tuệ giác đó ta đối chiếu vào việc đốt vàng mã cũng vậy, đốt vàng mã mà suy nghĩ rằng người chết sẽ nhận được thì đó là mê tín. Ta phải nhận thức rằng đó chỉ là phương tiện để ta thể hiện tình cảm và thực tập truyền thống uống nước nhớ nguồn. Nếu có phương pháp nào thể hiện hay hơn việc đốt vàng mã thì ta sẽ thay thế.

May thay ta đã có lời giải, đó là tập tục cài bông hồng trong ngày Vu Lan để thể hiện tình cảm của con cháu với cha mẹ, với tổ tiên. Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, đạo Phật tổ chức ngày lễ Vu Lan bông hồng cài áo. Người nào còn cha còn mẹ sẽ cài một bông hồng đỏ trên ngực, người nào mất cha mất mẹ thì cài bông hồng trắng. Người cài bông hồng đỏ sẽ luôn ý thức được rằng cha mẹ mình còn sống, ta thấy rất hãnh diện vì ta còn những người thương bên mình, người nào cài bông hồng trắng sẽ nhận thấy rằng cha mẹ mình không còn hiện hữu trước mặt mình nữa, song con chính là sự tiếp nối của cha mẹ, trong con có dòng máu của cha, có nụ cười của mẹ. Như mây kia không bao giờ chết, chỉ chuyển từ mây sang mưa, mưa rơi xuống thành nước sông hồ rồi từ sông hồ, hơi nước bốc lên lại thành mây. Tất cả chỉ là sự nối tiếp qua nhiều thế hệ, nhiều hình hài song bản chất không hề thay đổi. Khi ta thực tập được như thế là thực tập được con mắt vô tướng (sightlessness) của đạo Phật. Bây giờ ta có thể lấy ngày lễ Vu Lan rằm tháng 7 thay cho tập tục đốt vàng mã rồi, hay quá. Ngày lễ Vu Lan vừa đẹp, vừa trang nghiêm và tiết kiệm. Chúng ta cần nhận thức được đúng để có thể thực tập cuộc sống tỉnh thức, an lành, tiết kiệm.

Cúng rượu thịt và ăn chay

Phật giáo phát triển đề cao tinh thần từ bi hỷ xả, do đó bắt buộc người tu hành phải ăn chay. Ăn chay là không ăn thịt những loài có tình thức, có suy nghĩ. Do đó các đồ ăn mặn (thịt, cá, vv) đều cấm tuyệt và khuyến khích ăn rau, sữa. Tuy nhiên năm loại gia vị là hành, tỏi, hẹ, kiệu và các thứ cay nồng … cũng không được ăn do khi ăn vào kích thích những hạt giống giận hơn, tham đắm trong con người ta. Có người bảo ăn trứng gà công nghiệp không thể sinh ra con gà con thì không sao. Tôi cho rằng cũng không nên ăn loại trứng gà này vì chúng có mùi tanh. Người Phật tử đi chùa nên biết mà tránh mang rượu thịt tới lễ chùa. Có người bảo là Đức Ông trong chùa mặt đỏ, bụng to là do uống rượu, tôi thấy cũng thật buồn… cười. Tất cả các tướng đó đều thể hiện uy nghi khiến cho người đời sinh lòng kính sợ mà quy kính và không dám làm điều ác. Và hình tượng đó cũng chỉ là từ trong suy nghĩ của các nghệ nhân được thể hiện trên pho tượng gỗ, nên đôi khi không tránh được sự pha tạp của tư tưởng dân gian vào. Có sự khác biệt giữa Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo phát triển. Đối với người tu theo tiểu thừa thường đi khất thực vào buổi sáng, người ta cho gì thì ăn đó, dù là thịt hay đồ chay. Còn đối với người tu theo đại thừa thì người tu không ăn thịt. Hiện bộ phái tiểu thừa còn một số nơi trong miền nam thực hành, còn đại thừa khá phổ biến ở miền Bắc. Có hai sự khác biệt rất thú vị về khía cạnh ăn chay ăn thịt này trong thời đại ngày nay (ngày xưa chư tổ thực hành nghiêm túc lắm, còn ngày nay thì khác). Đó là đối với người tu theo tiểu thừa, họ có thể ăn thịt (hay còn gọi ăn mặn) tùy theo người ta cho gì thì ăn đó, không phan duyên. Thế nhưng họ vô cùng tuân theo giới luật như khi Đức Phật còn tại thế, đó là không ăn quá giờ ngọ (sau 13h chiều), nếu họ vi phạm thì sẽ bị người dân coi thường. Còn với đại thừa thì sao, ăn thịt thì là một cái tội rất lớn và thường bị con mắt người thế tục khinh rẻ, nhưng ăn sau 13h chiều lại là chuyện bình thường (vì không mấy người thế tục hiểu được giới luật Phật chế không được ăn cơm sau giờ ngọ), nhưng họ lại không gọi việc ăn sau 13h là ăn cơm và là thọ dược thạch, tức là thuốc nước, kỳ thực bản chất vẫn là ăn cơm nhưng chỉ gọi khác đi để nếu bị người nào am hiểu hỏi vặn thì cũng không cho là mình bị phạm giới luật. Ví dụ trên này là tôi đang nói vào thời đại bây giờ. Chứ còn cách đây mấy trăm năm thì các tổ thực hành giới luật rất nghiêm ngặt, không ăn thịt, không ăn quá ngọ, đêm ngủ ngồi, thực hành tam thường bất túc, nghĩa là ba thứ cần thiết thường ngày không bao giờ được đầy đủ: ăn không quá no, mặc không cần quá đẹp, không cần ngủ nhiều. Bây giờ thì khác nhiều rồi.

Lễ Phật thì cầu điều gì?

Người đi chùa thường cầu khấn Phật, Bồ Tát và thiện thần phù hộ cho họ và gia đình. Một phần nào những lời cầu nguyện đó có tác dụng khiến họ được yên lòng. Thế nhưng có nhiều người mù quáng cứ khấn cầu và mê muội tưởng là sẽ được thánh thần ban phát lộc. Trong giáo lý đạo Phật đề cao luật nhân (duyên) quả. Trồng cây nào sẽ cho quả đó, trồng cây chanh thì phải cho trái chanh chứ không thể cho trái cam được. Vì thế phúc báo mình nhận được đều do những việc mình đã làm trước kia, làm thiện thì được quả thiện, làm ác gặt ác. Như ông cha mình có nói gieo gió thì gặt bão. Hãy tin nhân quả, rằng mình làm tốt thì được quả tốt, gieo nhân ác thì gặt quả ác, chứ chẳng phải do cầu xin mà có. Muốn giàu có thì phải học hạnh bố thí, muốn khỏe mạnh thì đừng sát sinh, muốn minh mẫn học giỏi thì đừng dùng xì ke ma túy rượu bia thuốc lá. Tiếc là nhân quả thường đến muộn nên nhiều kẻ nghĩ là không có báo ứng. Và cũng vì hiểu luật nhân quả không ra đầu không ra đuôi nên có người nói tôi làm nhiều việc thiện mà sao số tôi khổ. Như tôi đã nói ở trên, nhân quả nói đầy đủ là nhân duyên quả. Tức là có cái nhân (causes) những phải có các yếu tố tác động (conditions) thì mới sinh ra cái quả (effects). Ví như khi trồng cây cam, muốn ra trái cam thì phải hội tụ đủ các yếu tố như nước, dinh dưỡng, ánh nắng, không khí cho cây sinh trưởng và ra hoa kết trái. Nếu không thì cái nhân đó rất lâu mới được ra quả. Đó chỉ là giải thích trên phương diện đơn giản. Còn nhân quả sâu xa đời trước bù đắp với đời này, ví như có người mượn người A tiền rồi lại mượn người B tiền, anh ta đi làm ăn một thời gian mới trả được anh A một ít tiền, dó đó nói anh này tuy làm mãi trả mãi xong vẫn chưa trả hết được nợ anh A, hết nợ anh B nên chưa được giàu sang sung sướng. Bản thân ta trước kia hoặc kiếp trước gây biết bao ác nghiệp, bây giờ mới làm một tí việc thiện đã đòi mong phúc báo thì tôi e rằng còn hơi sớm để được xem cảnh kết. Cúng vì nhiều người chưa hiểu cái lẽ đó nên thường cho rằng nhân quả không đúng, không tin nhân quả. Một lý do nữa đó là người ta không phân biệt được giữa việc thiện và ác, thấy người làm việc bố thí cho là làm thiện, nhưng kỳ thực họ làm bố thí chỉ để khoe mẽ với thiên hạ chứ không xuất phát từ lòng tốt. Lại thấy người đánh đập chửi mắng một người ăn xin là cho rằng người đó làm ác, kỳ thực người đó vì thấy người ăn xin còn khỏe mạnh nhanh nhẹn mà lại lười biếng đi ăn xin nên cố tình đánh đập đuổi đi để người ăn xin tự ái phải biết tự vận động để kiếm tiền. Thế cho nên phân biệt dựa việc thiện và việc ác rất là tế nhị. Mọi việc chúng ta đánh giá đều phải dựa vào mục đích xuất phát. Việc gì với mục đích có lợi cho người thì là thiện, việc gì với mục đích có lợi cho mình thì là ác. Các bạn có thể tham khảo cuốn “Liễu phàm tứ huấn” để hiểu rõ hơn về nhân quả, thiện ác. Đây là một cuốn sách rất hay.

Bàn chuyện thờ Mẫu

Tôn giáo và chính trị luôn luôn song hành cùng nhau. Chính trị dùng tôn giáo để làm yên lòng người. Mỗi thời vua lên thì lại thịnh hành một loại tôn giáo, Phật giáo do đó cũng lúc lên lúc xuống. Có thời đạo Mẫu lên cao, Phật giáo xuống thấp. Mà hầu hết giới thanh niên theo Mẫu nhiều, theo kiểu tư duy trẻ vui nhà già vui cửa nên bấy giờ người già đi chùa là chính. Các chư tổ thấy thế đâm lo nên nghĩ ra cách đưa đạo Mẫu vào thờ chung trong chùa, rồi từ đó khiến cho người trẻ tới chùa lễ Mẫu thì được thân cận Tam Bảo và được nghe giảng pháp sẽ dần quay về với đạo Phật. Sau này khi Phật giáo lên cao xong vẫn giữ nơi thờ Mẫu trong chùa vì sợ nếu không có gian thờ trong chùa thì người dân sẽ tới những nơi thờ cúng tư nhân thì còn nhiều chuyện rắc rối hơn, tốn kém hơn. Đó là lý do mà đạo Mẫu được thờ chung trong chùa. Còn chuyện Tam giáo đồng nguyên có lẽ cùng vì lý do trên. Hiện Đạo Mẫu phát triển khá mạnh, nhưng có sự biến thái ở nhiều nơi. Có một sự khác biệt khá lớn giữa đạo Mẫu so với đạo Phật, đọa Khổng và đao Lão. Đó là đạo Mẫu không được coi là một tôn giáo. Một đạo được coi là một tôn giáo khi hội tụ đủ 3 yếu tố: Giáo chủ (người đứng đầu, người khai sáng), giáo lý (triết lý dạy con người, nhân sinh quan về xã hội, vũ trụ, vv) và tín đồ. Đạo Mẫu không hề có giáo lý. Vì thế không thể đứng chung hàng với đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão. Đạo Mẫu chỉ là một tín ngưỡng thờ cúng dân gian Việt Nam. Hiện cũng giống như đạo Phật, đạo Mẫu có khá nhiều biến tướng, nơi tư nhân mở phù hầu đồng, tôn nhang tốn kém tiền triệu, khiến người ta phải mê mờ khổ sở.

Hái lộc đầu năm

Hồi nhỏ chẳng biết gì mỗi lần giao thừa đi đền, phủ, chùa lấy lửa đầu năm thì tiện tay bẻ luôn cành cây lấy lộc. Lớn rồi mới biết dại. Thứ nhất là phá hoại cảnh quan môi trường. Thứ hai là có nhiều loài ngã quỷ, linh hồn phải sống nương nhờ vào nơi cây cối, bây giờ bẻ lộc về nhà có khi còn rước cả bọn nó về nữa, chúng nó quậy cho gia đình không được yên ổn. Thế cho nên lấy lộc mà đâm ra chẳng có tẹo lộc nào.

Viết sớ, cắt sao giải hạn

Cũng chỉ là phương tiện để an lòng người, viết cũng được không viết cũng được. Có điều vào ngày lễ tết người ta đổ xô lên chùa viết sớ giải hạn, vì đông quá nên nhà chùa thường bỏ sót tên người trong nhà, thế là khiến cho gia đình họ trở nên lo lắng. Khi đó hạn chẳng thấy giải mà tâm lý họ lại bị đè nặng.

Việc phóng sinh

Hỏi: tôi sợ phóng sinh rồi người ta lại bắt được nó thì cũng công vô ích, chi bằng chẳng phóng sinh.

Trả lời thế này: Nghiệp của những chúng sinh đó sớm muộn cũng chết. Chết do tuổi thọ hết hoặc do người ta bắt đi. Ta bỏ tiền ra chuộc mạng cho chúng và thả chúng đi thì có thể kéo dài thọ mạng của chúng thêm được chút ít thời gian, đôi khi chút ít thời gian cũng làm ra vấn đề ấy chứ. Thứ hai là khi ta phóng sinh nên quy y cho chúng, đọc cho chúng nghe vài câu kệ hoặc vài câu chú thì như là đã gieo duyên Phật pháp cho chúng. Kiếp sau hoặc kiếp sau sau nữa chúng sẽ có cơ hội được tu tập và được gần gũi Phật pháp, thoát khỏi kiếp súc sinh. Như thế là bạn đã có lý do để phóng sinh rồi.

Người ta hay nói phóng sinh công đức vô lượng hoặc phóng sinh là công đức hơn hết các pháp bố thì khác. Thực ra chỉ là phương pháp khuyến dụ người làm thiện mà thôi. Vì các phương tiện Phật dạy chúng sinh đều có công năng và công đức như sau mà.

    Khi phóng sinh nên chú ý một chút. Ta phóng thích nơi môi trường phù hợp cho chúng sống, không bị ô nhiễm, rộng rãi thênh thang ví như hồ tây chẳng hạn. Khi phóng sinh cá tôm ta chú ý là chúng sống trong nước nên da chúng thích ứng với nhiệt độ của nước, bàn tay ta có nhiệt độ cao hơn có thể làm bỏng da chúng. Do đó trước khi phóng sinh nên làm ướt tay trước để đề phòng.

Tu Phật không phải là việc hành xác

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi ngộ ra chân lý đã mất tới 6 năm tu khổ hạnh hành xác cùng 5 anh em ông Kiều Trần Như. Một ngày Người nghe thấy hai cha con người hát rong nói chuyện với nhau. Người cha dạy con Con đừng nên căng dây đàn quá căng vì có thể sẽ làm nó bị đứt, cũng đừng trùng quá vì âm thanh sẽ không hay, phải căng dây vừa phải thì mới đạt được âm thanh lý tưởng. Đức Phật nghe tới đó chợt ngộ ra rằng muốn cầu được đạo giải thoát thì phải đi theo con đường trung đạo, tức là không thiên lệch về một phương diện nào cả. Không quá khổ hạnh ép xác vì sẽ làm mình mất sức lực, mất sự tỉnh táo thì dễ bị bỏ cuộc; không sa đọa vào những nhu cầu thế tục thì luôn giữ được sự thanh tịnh sáng suốt.

Người tu đạo Phật không nên nghĩ rằng ta dập đầu sát đất chảy cả máu, quỳ tụng Kinh không cần nệm, hành hạ thân xác mình và cho rằng đó là cách thành kính cúng dường hay để trả nghiệp. Tu hành thì trước hết phải giữ cho tinh thần minh mẫn, sức khỏe deo dai thì mới mong độ mình độ người. Hình thức quá thì hay hỏng việc.

Tu học- Giáo lý

Quy y Tam bảo

    Quy là quay về, y là nương tựa. Tôi dịch theo tiếng Hán và các Thầy cũng chỉ dịch đơn giản như thế này thôi, không cần giải thích dài dòng làm gì. Tam Bảo là ba ngôi báu: Phật Pháp Tăng.

Phật là người đã giác ngộ và là người đưa đường chỉ lối cho chúng ta đi trên con đường giác ngộ như Người

Pháp là giáo lý và phương pháp thực hành để đưa ta đạt tới sự giác ngộ đó

Tăng là đoàn thể những con người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức, thực hành giáo lý đưa tới sự giác ngộ.

Khi nói đến chuyện Quy y thường có một vài suy nghĩ như này: Trong tâm tôi có Phật rồi, tôi nguyện làm theo các việc lành, nguyện quy y theo Tam bảo, vì thế không cần phải làm lễ quy y làm gì, trong tâm tôi tự tôi hiểu là được. Suy nghĩ thứ 2 là tôi đến chùa chỉ cần tìm sự an lạc thảnh thơi, không thích quy y để thêm sự dàng buộc vào người, tôi không muốn là tín đồ của tôn giáo nào hết, tôi là người trí thức nên không mê tín. Những suy nghĩ này để giải thích thì dài nên tôi không muốn đưa vào đây, lúc nào rảnh thì ghi vào. Nhưng trong cuốn “Cương yếu giới luật” cụ Thánh Nghiêm cũng đã giải thích rất rõ những lập luận này rồi, các bạn nên tìm đọc để hiểu hơn. Ví như Quy y thì phải có đủ lý quy y và sự quy y. Lý quy y nói về tâm quy y còn sự quy y nói về hình tướng của sự quy y. Nói về sự giàng buộc thì anh giống như một người muốn học kiến thức một Thầy nhưng không dám nhận là học trò của ông ta vậy. Hay như một người ngoại quốc tới Việt Nam sống, anh ta làm nhiều việc đóng góp cho đất nước Việt Nam, nhưng dù có làm tới đâu đi nữa thì anh ta vẫn không được coi là người Việt Nam vì anh ta vẫn mang quốc tịch nước ngoài vậy.

Thọ trì Ngũ giới

Ngũ giới là 5 giới cấm trong Phật giáo, đây cũng là năm giới cơ bản nhưng quan trọng nhất, gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Với đời sống hiện đại ngày nay, chúng ta có thể phát triển 5 giới trên theo một hướng rộng hơn gọi là 5 giới tân tu, tôi có link đây: ….

Có một số vấn đề về việc thụ ngũ giới như sau, đó là các bạn sợ rằng đã thụ giới thì phải giữ đúng 5 giới mới được, nếu biết chắc là sẽ không giữ được một giới nào đó thì sẽ không dám thụ cả 5 giới nữa. Đó là vì các bạn chưa hiểu đúng về ngũ giới. Phật chế ra giới luật với mục đích là tạo ra một phương pháp giúp chúng đệ tử thực hành tốt hơn đời sống tu hành. Ví như nhà có tấm gương, ta soi vào đó thấy mặt mình bẩn thì ta lau đi. Người thụ ngũ giới thì giống như đang đeo một chiếc gương trên người, ta phạm vào một trong năm lỗi thì ta nhận ra ngay mà từ đó mà sửa đổi. Việc tu tập phải dần dần mới thành tựu, không thể trong một sớm một chiều. Thế cho nên khi mới thụ ngũ giới ta có khi vẫn còn mắc phải các lỗi trên, xong do ta đã thụ ngũ giới nên ta biết rằng điều ta làm là sai phạm, nên từ đó dần thay đổi. Hoặc có những giới như uống rượu chẳng hạn. Ta uống vì lòng ham thích, xong do bây giờ ta đi làm ăn với đối tác ta phải uống rượu, nhưng việc uống rượu lúc này là bắt buộc phải uống vì công việc, vì hàng ngàn công nhân trông chờ vào một bản hợp đồng này chứ không phải vì lòng ham thích nữa. Khi về nhà thì ta quên luôn việc uống rượu do bắt buộc làm ăn mà ta phải phạm lỗi. Cái hiểu đúng của ngũ giới là như thế. Việc giữ giới thì có thiện thần tới ủng hộ hay như thế nào đó thì tôi không dám bàn, có thể cũng chỉ là một phương pháp để khuyến dụ người ta giữ giới. Nhưng với tư duy của người trí thức, nếu nhìn nhận ngũ giới và năm giới tân tu sẽ thấy đây là một phương pháp sống hết sức mẫu mực, không hề mang tính tâm linh huyền bí gì cả.

Cách học Phật

Chư tổ dạy cho chúng ta 4 phương pháp để tu học gọi là tứ y cứ,gồm có:

Y pháp bất y nhân: tức là học theo những gì ông Thầy dạy chứ đừng học từ bản thân hành động của ông thầy đó. Ví như có ông thầy bảo là hút thuốc có hại cho sức khỏe nhưng mà ông ấy vẫn hút thuốc, có cô giáo viết lên bảng là “Đi giày cao gót dễ bị trẹo chân” trong khi cô ta vẫn đang đi một đôi cao gót. Họ mới nói là “hãy làm theo những gì tôi nói, nhưng đừng làm theo những gì tôi làm”. Ta phải rất tế nhị trong phương pháp học này. Vì nếu người thầy không làm gương thì người học sao có được niềm tin đây. Cái gương từ bản thân ông thầy ta gọi là thân giáo. Giữa lời dạy và thân giáo của ông thầy phải giống nhau thì mới mong người học có được niềm tin và mong muốn thực hành. Chân lý thì dễ nói nhưng khó làm. Ta nhớ câu y pháp bất y nhân để luôn giữ vững được niềm tin vào đạo lý chân chính, đừng để một vài hình ảnh xấu mà hiểu lầm giáo lý mà chư Phật đã chỉ bày.

Y kinh liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa kinh: Tức là dựa chủ yếu vào các kinh có nhắc tới chân đế, nhắc tới giác ngộ, niết bàn, vô ngã, vô tướng, vv. Những kinh bất liễu nghĩa kinh như Kinh nói về tam quy ngũ giới, nhắc về tục đế. Nhưng đừng vì thế mà ta bỏ qua bất liễu nghĩa kinh. Nếu không nhờ những kinh căn bản này thì làm sao ta hiểu được những kinh kia?

Y trí bất y thức

Y nghĩa bất y ngữ

Tức là phải dựa vào nghĩa, dựa vào văn cảnh để hiểu đúng được lời chư Phật dạy. Nếu cứ y như những lời trong Kinh nói thì có ngày hiểu sai ý Chư Phật. Thế nên có câu Y Kinh giải nghĩa tam thế Phật oan.

Ngoài 4 phương pháp tu học trên chúng ta còn nắm vững một số giáo lý cơ bản để khỏi bị ngỡ ngàng, trong đó có giáo lý về chân đế và tục đế.

Tục đế hay còn gọi là thế đế, thế tục đế, là chân lý mà người đời đều công nhận là đúng. Ví dụ như cuộc đời có sự hiện hữu của khổ đau, có sự hiện hữu của sinh, già, bệnh chết.

Chân đế còn một số tên gọi khác nữa, chân đế tức là sự chân thật trên hết, vượt trên cả tục đế, chân đế là sự thật chân thực chỉ có bậc giác ngộ mới thấu hiểu triệt để. Ví dụ về chân đế được nhắc nhiều trong Tâm kinh bát nhã, chân đế ở trong đây là không có sự sinh già bệnh chết, không có khổ, không có mắt tai mũi lưỡi thân ý, vv.

Trong thời gian thuyết giảng của mình, chư Phật có khi thì nhắc về chân đế (vd như Tâm Kinh bát nhã), có khi lại nói về tục đế (ví dụ như bài pháp Tứ diệu đế). Khi học Phật ta nên nắm rõ hai giáo lý về chân đế và tục đế để không bị lầm tưởng.

Bên cạnh tứ y cứ, chân đế tục đế còn có phương pháp Văn-Tư-Tu. Đây là pháp môn mà Quán Tự Tại Bồ tát đã thực hành và đạt được sự chứng ngộ. Đây là một quá trình học hỏi trải qua 3 bước cơ bản.

Văn là nghe. Nghe nhưng với một cái tâm trống rỗng, không có bất cứ giả thuyết, kiến thức, định kiến nào trong đầu. Khi nghe không đưa ra phán xét gì về lời người ta nói, tâm như cái cốc không cứ để cho nước chảy vào. Như thế ta mới tiếp nhận được cái mới. Nếu ta học một điều mới với một giả thuyết, một quan điểm có sẵn trong đầu thì ta sẽ luôn dùng kiến thức ta nghe được để bảo vệ hoặc bổ sung cho cái ta đang có sẵn trong đầu. Nếu người ta nói đúng thì ta cho là cái ý ta có sẵn là đúng, thế thì ta không học được gì thêm cả. Nếu người ta nói khác so với những gì mình đang nghĩ, thì mình lại bảo họ sai. Vì thế mình cũng không học được gì cả. Do đó trong lúc lắng nghe tốt nhất ta không đưa ra bất cứ nhận xét gì cả, chỉ nghe thôi. Học trò của Phật được gọi là Thanh Văn cũng từ ý này mà ra.

Tư là suy nghĩ phân tích, quán xét xem điều mình vừa nghe có chỗ nào hay dở. Ta thấy nghe và đánh giá được chia làm 2 bước theo thứ tự trước sau chứ không thực hiện hai thứ song song cùng lúc.

Tu có nghĩa là thực hành. Sau khi Tư mà ta chiêm nghiệm học hỏi được kiến thức mới thì đem vào thực hành. Đây là 3 bước cơ bản của việc học Phật.

Mục cách học Phật này là tôi dựa vào lời giảng của sư ông Làng Mai trong bài pháp thoại khóa tu mùa đông 1993, nên mong các bạn có thể tìm lại bài giảng này của sư ông để nghe kỹ hơn. Có thể tìm tại trang nhà Làng Mai mục pháp thoại: langmai.org

Trì giới

Không được ngửi hoa cúng Phật

Có vị thiền sư ngồi thiền trong một đầm sen, bất giác hương sen bay qua trước mũi ngài nên ngài liền nảy sinh trong tâm một ý niệm rằng hương sen thật thơm. Vừa nghĩ xong thì chư tiên hiện lên quát rằng:”Ông phạm tội ăn trộm rồi nhé”. Hoa trong chùa, dâng cúng lên Tam Bảo rất linh thiêng nên người thế tục dù đi qua, trực tiếp cắm hoa nên tiếp cận với hương hoa thì không được nảy lên cái niệm rằng hương hoa thơm, sẽ phạm vào tội ăn trộm của Tam Bảo.

Không được nói lỗi người xuất gia

Người thế tục không được cử tội người xuất gia, người sư ni không được nói lỗi sư tăng, đó đều là những quy định ghi rõ trong giới luật. Tại sao lại thế, vì các lý do sau: Người tại gia chưa thể thông thuộc hết các giới luật ( luật lệ) trong giới xuất gia, vì chưa hiểu hết nên chưa thể xác định rõ là vị xuất gia này có phạm lỗi hay không; nếu nói lỗi của các vị xuất gia này ra với người khác sẽ khiến lòng tin Phật pháp của vị đó bị lung lay, không thể vì một vài con sâu mà làm hỏng nồi canh được, giáo lý Phật pháp vi diệu không thể bị hiểu lầm chỉ vì vài con sâu đó; người xuất gia còn gọi là người tu hành. “Tu” trong tiếng hán dịch ra là sửa mình, và vì còn đang sửa mình nên các vị đó không thể không có lỗi được. Dù đối với lỗi của người tu hành hay với người nào trong xã hội, ta nhìn, nghe, nhưng phải suy nghĩ thật thấu đáo. Khi không phải người trong cuộc thì tốt nhất ta chỉ nên nghe và để trong lòng, làm bài học răn mình. Vì không phải là người trong cuộc nên ta không nên đưa ra bình luận hay kể lại cho ai. Nhà văn Mark Taiwan đã từng nói thế này: ” Lời đồn đã chạy được nửa vòng trái đất trong khi sự thật vẫn còn đang bận xỏ giày”. Sức mạnh của lời đồn sai sự thật có thể giết chết hình ảnh của cả một con người, vì thế chúng ta nên chú ý tới những lời nói, quan điểm của mình khi không phải là người trong cuộc.

Người nữ không được quá thân cận người sư tăng

Để phòng trừ dâm dục, người sư tăng (nam) phải phòng tâm mình trước nữ giới, nói chuyện không nên nhìn thẳng mặt, không được để hở răng. Người nữ không nên ăn mặc khêu gợi khi gặp gỡ người sư tăng. Đó là những đạo lý hết sức cơ bản. Các vị nữ lên chùa lễ Phật cũng nên ăn mặc kín đáo chút. Bây giờ người ta ăn mặc thời trang quần ngắn áo mỏng ở ngoài đường nhiều nhưng đừng nên mang vào những nơi tôn nghiêm. Nếu các vị cho rằng sắc sắc không không, ai ăn người đấy no, ai tu người đấy đắc, tôi thích mặc gì vào đâu là việc của tôi thì các vị đã dám ăn mặc thiếu vải như thế thì sao không “cởi” hẳn mà ra đường đi.

Đứng trước tượng Phật, Thánh Tăng không được phép ngồi

Xưa có vị thiền sư không bao giờ ngồi nơi có tượng Phật, Thánh Tăng để tỏ lòng tôn trọng. Ngày nay ta nên thực hành như thế, ví như trước lầu Quan Âm, Tam Bảo không nên ngồi mà phải đứng hoặc quỳ. Trước tượng Phật trang nghiêm ta nên nói chuyện nghiệm túc, không nên nói xấu người, đem chuyện đời trao đổi với nhau.

Không nói chuyện thế tục

Kể cả người xuất gia và tại gia khi ở chùa không nên nói chuyện đời thường mà phải chuyên tâm học đạo, tìm hiểu chân lý để chứng được Niết Bàn an vui. Xưa có tích chuyện có một vị sư nằm mơ thấy hai huynh đệ của mình đứng nói chuyện với nhau, xung quanh có chư thiên bay xuống lắng nghe câu chuyện của họ. Tới gần mới biết họ đang bàn chuyện đạo. Nhưng một lúc sau họ chuyển sang nói về người này người nọ, chuyện này chuyện kia. Chư thiên liền tức giận mà bỏ đi, một lúc sau thì quỷ vương bay tới vây quanh. Qua đó ta mới thấy, nói lời hay ý đẹp, kể chuyện đạo thì chư thiên cùng tán thán, nhưng khi nói chuyện đời này nọ thì chỉ có quỷ vương mới vui sướng mà thôi.

Đốt, thắp nến

Không được dùng miệng thổi tắt nến vì nước bọt sẽ bắn hết vào ban thờ và vào nến. Nên dùng tay quạt tắt nến hoặc lấy que dập đi. Trướ khi thắp hoặc tắt ta nên chắp tay xá chào.

Đốt hương trầm

Không được dùng tay bốc hương trầm đổ vào lò đốt mà phải để cả túi đổ vào hoặc lấy thìa xúc. Dùng tay là bất kính vì tay anh toàn cầm đồ bất tịnh, sao dám dùng tay mà bốc!?

Tắm Phật như nào?

Vừa rồi tham gia Phật đản có biết là tắm Phật ta sẽ dội nước lên vài trái Phật trước, sau đó sang vai phải, không được dội lên đầu. Nước được chuẩn bị là thứ nước thơm pha nhiều loại thảo mộc. Đây là một nghi lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh.

Trong lễ truyền trao giới luật hoặc tụng giới mà ta chưa thọ thì không được nghe

Trong cương yếu giới luật của HT Thánh Nghiêm cũng giải thích, giới Phật chế ra rất nhiều, người nào thụ giới thì phải giữ và làm theo các giới đó. Ví dụ bây giờ người ta thụ 250 giới, anh ở ngoài nghe hóng được một vài giới. Sau này anh biết các giới đó rồi, thấy người nào đã thụ giới mà không giữ được giới đó thì anh lại kể tội và chê bai họ. Việc này có vấn đề sau: Một là do anh không thụ giới nên không thể hiểu hết các giới luật, nên dễ dẫn tới khả năng là anh hiểu sai người đã thụ giới, thứ 2 là giáo hội đề ra giới luật thì cũng có những hình phạt tương ứng, không mượn tới anh phải nói ra. ba là Phật quy định người không thụ giới không được kể tội người đã thụ giới, tỳ kheo ni không được kể tội tỳ kheo. anh là người phàm mà giám kể tội người tu hành thì tội anh đáng đọa địa ngục. Cái này không phải là phân biệt, dung túng cho người trong giáo hội, mà chính là để bảo vệ cho anh thôi. Nói lỗi người khác tức là thấy cái lỗi của mình rồi. Việc không kể lỗi người xuất gia tôi cũng đã nêu rõ bên trên.

Làm việc gì cũng nên có hai người

Thứ nhất là để người đó còn làm chứng cho mình nếu chẳng may mình bị vu oan điều gì đó, thứ hai là mình không hiểu thì người đó có thể chỉ cho. Cái này không phải chỉ ở trong chùa mà là ngoài xã hội ta cũng nên làm như thế.

Khi nào thì không cần làm lễ người tu hành

Khi mình đang tụng Kinh, ăn cơm, ngủ nghỉ, uống nước, hoặc thấy người tu hành đang làm các việc đó thì không cần làm các nghi lễ như cúi xá chào, quỳ lạy, vv.

Sử dụng đồ trong chùa

Khi chưa được người quản lý trong chùa cho thì không được tự ý sử dụng. Đồ ăn thức uống phải biết hạn chế, không lãng phí. Bánh kẹo trên ban thờ cũng không được tự ý hạ xuống ăn khi chưa được nhà chùa cho phép.

Mặc áo màu gì

Giáo hội Phật giáo VN quy định là Tam Quy mặc áo màu nâu, thụ ngũ giới mới được mặc áo màu lam. Lại có ý kiến cho rằng người chưa xuất gia thì mặc màu lam, người xuất gia, các chú tiểu thì mặc màu nâu. Cái này tôi chưa rõ lắm.Hiện thấy các thiền viện Trúc Lâm các Phật tử mặc áo màu lam, còn tôi thì thích áo nâu hơi, nhìn giản dị gần gũi mà có ở bẩn cũng chẳng ai biết, =)).

Nghe hiệu lệnh

Trong chùa không dùng việc hô hào, quát tháo làm hiệu lệnh, tất cả thông báo về thời khóa tu tập đều dùng tiếng chuông, mộc bản (gõ vào miếng gỗ) để ra hiệu. Mọi người nghe vào đó mà thu xếp công việc của mình để tham gia tu tập.

Tư thế ngồi

Mặc áo pháp (áo tràng dài) khi ngồi nên thu xếp gọn vạt áo sau lưng, nhìn vừa gọn mà người đi không dẫm lên. Ngồi không nên quay lưng về phía tượng Phật. Chỉ trừ vị tu hành là được ngồi quay lưng về phía tượng Phật vì họ đại diện cho một trong ba ngôi Tam Bảo là Phật, Pháp

Hoa cúng Phật

Dùng hoa xong không nên bỏ vào sọt rác mà nên đem phơi khô ở chỗ sạch sẽ rồi đốt. Kể cả hoa dùng ở ban thờ nhà mình cũng nên thế.

Xưng hô với người tu hành:

Không được gọi tên đích danh người sư đó ra mà phải dùng những từ khác gọi, ví dụ ngày xưa có vị tổ Bách Trượng Hoài Hải, tên thật là Ngài là Hoài Hải, tu trên ngọn núi cao trăm trượng. Vì kính ngưỡng đạo hạnh nên người đời không dám gọi tên thế tục của Ngài mà phải gọi là Bách Trượng (ý chỉ vị sư tu trên ngọn núi cao trăm trượng), hoặc như cố Hòa Thượng Thích Thanh Bích, không được gọi tên của Ngài ra mà thường gọi là Hòa Thượng Hội Xá (Hội Xá là tên ngôi chùa Ngài tu), về khóa tu thì các bạn có thể gọi là Thượng tọa trụ trì chùa A, Đại Đức trụ trì chùa B chẳng hạn. Trong giới tu hành có các cấp bậc như sau: mới đi tu gọi là chú tiểu, sắp xuất gia gọi là hình đồng, mới xuống tóc gọi là sư chú (ta có thể gọi là chú A, chú B), được 2 năm thi lên cấp gọi là sư bác (ta lại gọi là bác A, bác B), thêm năm nữa lên Đại Đức ( ta gọi là Thầy A, Thầy B), xuất gia được 25 năm trở lên ta gọi là Thượng tọa, trên 40 năm gọi là Hòa Thượng. Thời gian này có chính xác không tôi chỉ viết ra đây, các bạn hãy kiểm tra lại vì tôi k quan tâm tới mấy cái danh xưng này lắm. Hiện ngoài miền Bắc dựa vào tuổi hạ để tính cấp bậc, miền nam thì chỉ cần dựa vào số năm xuất gia thôi. Tuổi hạ là gì? Đó là mỗi năm các vị tu hành trong một khu vực phải tập trung tại một điểm để tu học, mỗi năm tính là 1 hạ.Vị nào không đi thì không được tính.

Chưa Quy Y không được đi vào trong hậu cung trên chính điện:

Cái này tôi không rõ lắm, chỉ nghe hóng từ một người Phật tử thôi.

Đối xử với cho mèo, chuột, các loài súc sinh:

Nên có tâm bình đẳng, không khinh khi chúng vì Phật tính vốn giống nhau không khác. Nhăc tới Phật tính tôi lại nhớ tới một câu chuyện thiền: Có vị thiền sinh nọ hôm trước nghe Thầy mình giảng là chúng sinh đều có Phật tính. Hôm sau anh tới hỏi lại Thầy mình là con chó liệu có Phật tính hay chăng. Thầy quát cho anh một trận mà nói: “Con chó làm gì có Phật tính, tới lão già như ta còn chẳng có nữa là nó”. Anh học trò vô cùng bối rối vì hôm trước Thầy mình nói một đằng, bây giờ lại nói ngược lại. Câu chuyện vui nhưng đâỳ đủ ý đạo. Sở dĩ ông Thầy nói như thế để cho chàng thiền sinh không chấp vào các lý thuyết. Câu hỏi của anh là câu hỏi để chứng minh cho một lý thuyết chứ không phải là anh đang tìm cho mình một phương pháp tu tập. Đạo Phật không phải là một tôn giáo với giáo lý, lý thuyết khô khan mà đạo Phật chân chính là hướng tới các phương pháp và sự thực tập để đạt được sự an lạc và dứt trừ phiền não.

Vào chùa lễ ai trước:

Lễ từ thấp lên cao, tức là vào chào Thầy trụ trì trước, xin phép Thầy hoặc người trông coi chùa được lên lễ Phật hoặc cúng dường Tam Bảo. Sau đó lên lễ Tổ, rồi tới Tam Bảo.

Vào chùa từ cửa nào?

Phật giáo cho rằng vũ trụ xoay vần theo chiều kim đồng hồ tức là từ trái sang phải nên trong các nghi lễ thường đi vào chùa từ cửa bên trái và ra phía cửa bên phải. Trong phong thủy cũng cho rằng nhập Thanh long (cửa trái) và xuất Bạch hổ (cửa phải). Tuy nhiên Phật tử cũng không nên chấp chước là bắt buộc phải đi cửa nào, nếu không thể vào trái ra phải được thì chỉ cần nhớ rằng, vào cửa trái thì ta bước chân trái trước, vào cửa phải ta bước chân phải vào trước. Điều này nhằm giúp ta “nhất tâm bất loạn”, tức là giúp ta ý thức được hành động của mình, thân và ý hòa làm một. Tôi thích nói chuyện thiền nên lại kể một câu chuyện nữa: Trước có vị thiền sư nghĩ là mình đã chứng đạo nên tìm tới một vị sư đã chứng đạo mong vị này xác nhận (ấn chứng) cho mình. Trời mưa, nhưng cuối cùng hai vị thiền sư cũng tìm gặp được nhau. Vị thiền sư đã chứng đạo ngồi từ trong nhà nói vọng ra với vị kia:”Vừa rồi vào đây cây dù của ông đặt bên trái hay bên phải cái dù của tôi?” vị sư tìm tới xin ấn chứng kia đứng ngớ người ra không trả bài được, vì lúc vào tâm trí vị này chỉ nghĩ tới chuyện ấn chứng chứ chẳng còn có việc gì quan trọng hơn cả. Cũng đúng trong giây phút lịch sử đó, vị sư bị hỏi đột nhiên khai ngộ. Câu chuyện thiền ngắn gọn nhưng chứa đựng triết lý vô cùng chân thật của đạo Phật. Chính Niệm. Đó là sự ý thức những thứ đang xảy ra xung quanh ta ngay trong giây phút hiện tại. Ý thức và hành động của chúng ta cùng hòa làm một. Đây là giáo lý và phương thức thực hành đạo Phật chân chính vô cùng chân thật và sâu sắc.

Vào chùa mặc quần áo như thế nào?

Người khách thập phương vào chùa cần ăn mặc kín đáo, lịch sự. Nên mặc quần áo tối màu (màu nâu, đen), không nên mặc quần áo màu sắc sặc sỡ. Hiện nay ngoài đời nhiều người nữ mặc quần ngắn, áo hai dây, nhìn rất khêu gợi. Họ đâu biết rằng khi mình mặc như thế đi ra đường sẽ khiến những người nữ khác theo mốt mà mặc theo, xã hội sẽ tràn lan cái mốt thời trang khêu gợi đó. Người nam khi nhìn thầy người nữ ăn mặc khêu gợi sẽ sinh lòng dâm dục, tích tụ nhiều ngày sẽ bùng phát mà phạm nhiều tội dâm như ngoại tình, cưỡng hiếp, vừa ảnh hưởng tới sức khỏe người nam đó vừa gây bất an cho xã hội, khiến cho xã hội chẳng còn luân lý gì cả. Mà trong tất cả các tội, tội dâm đứng hàng đầu (vạn ác dâm vi thủ). Chính vì là nguyên nhân khiến cho người nam khởi lòng dâm dục mà người nữ ăn mặc khêu gợi sau này đều bị đọa vào địa ngục cả. Ngoài đời đã thế mà vào chùa còn ăn mặc khêu gợi, khiến khách thập phương khác không giữ được chính niệm, người tu hành cũng bị lay động thì tội này đáng bị đọa địa ngục.

Thêm vào đó người nữ vào chùa không nên để xõa tóc, nói năng cư chỉ nên lịch sự, nhẹ nhàng.

Đặt tiền lễ

Không nên đặt tiền lẻ lên các ban, vì sẽ khiến cho ban thờ mất hết tính trang nghiêm, gió thổi tiền bay sẽ khiến cháy nổ chùa, lại mất công nhà chùa đi thu dọn tiền lẻ. Nên bỏ tiền vào hòm công đức mà nhà chùa đã chuẩn bị. Bây giờ Phật tử vào chùa thấy chỗ nào trống là đặt tiền, có khi còn nhét cả vào miệng tượng Phật, cho là cứ đặt được tiền vào tượng là may lắm. Lại còn nghĩ là có bao nhiêu ban thờ thì đặt bấy nhiêu ban, bao nhiêu hòm công đức thì bỏ bằng đấy hòm. Kỳ thực Phật ở đâu cũng thế, bỏ 1 hòm công đức là được, bỏ 1 ban thờ là được. Để nhiều hòm công đức vốn dĩ giúp cho Phật tử được thuận tiện trong việc cúng dường mà thôi. Ai đâu lại có kẻ nghĩ nhà chùa tham lam nên làm ra nhiều hòm công đức, thật đáng buồn…cười. Việc đặt tiền lẻ liên quan tới Bố thí tôi sẽ đề cập ở phần dưới.

Thắp hương

Đừng nên thắp hương. Nếu ai vào chùa cũng thắp hương thì khói nghi ngút, ngột ngạt, lại dễ gây hỏa hoạn. Nhà chùa thắp hương vòng là đủ, đừng thắp hương que làm gì nữa.

Đi lại trong chùa

Không đi tắt ngang qua mặt người đang lễ bái. Nhà chùa đang làm lễ mà muốn vào dự thì nhẹ nhàng đi tới phía sau, tìm chỗ nào trống thì ngồi. Nơi tụng kinh niệm Phật ta nên giữ sự im lặng, thanh tịnh

Cầm kinh sách

Thấy Kinh như thấy Phật, nên cầm bằng hai tay hoặc một tay kẹp Kinh trước ngực. Không kẹp Kinh vào nách hoặc cầm kiểu để xuôi tay. Những sách khác liên quan tới Phật giáo cũng nên cầm như thể để thệ hiện sự cung kính. Trước khi cầm Kinh lên đọc nên rửa tay sạch sẽ, súc miệng sạch. Khi ta làm tất cả những điều này sẽ thấy thân tâm an lạc, đọc Kinh được nhập tâm, cũng là tạo cho mình một thói quen, một phong cách trang nghiêm lịch sự. Nhìn cách cầm Kinh, sách thì ta cũng có thể đánh giá được văn hóa một con người.

Trau dồi kiến thức về kiến trúc Phật giáo

Tới chùa nên biết được các pho tượng trong chùa là ai, tại sao lại đặt như thế, kiến trúc ngôi chùa như thế nào. Có thể tham khảo bài sau

“Chùa Đất Việt”: http://www.phuot.vn/threads/1296-Ch%C3%B9a-%C4%91%E1%BA%A5t-Vi%E1%BB%87t

Ăn cơm trong chùa

Trong chùa ăn cơm không nói chuyện, không tạo ra tiếng động mạnh khi sử dụng bát đũa. Bởi vì tán tâm tạp thoại thì tín thí nan tiêu. Nhiều người bảo ăn cơm không nói chuyện cười đùa thì mất ngon, nên dù biết quy tắc trên nhưng vẫn chẳng quan tâm. Nào biết rằng tạp thoại chẳng đem lại lợi ích gì mà còn khiến cho thức ăn ăn vào bụng chẳng thể nào tiêu hóa được, mỗi hạt cơm ta ăn trong chùa đều là của bố thí của Phật tử mười phương, nếu không biết trân trọng, nỗ lực tu hành thì tới một giọt nước uống vào cũng chẳng thể nào tiêu đi được. Xét về khía cạnh vệ sinh thì ăn cơm nói chuyện khiến nước bọt giãi bắn hết cả vào thức ăn và vào người đối diện, thật là mất vệ sinh không thể tả.

Còn một thứ quan trọng là ăn cơm thì phải tiết kiệm, lượng sức mình ăn bao nhiêu thì lấy bằng đó, ăn không được lãng phí kể cả một hạt cơm.

Ứng xử với người tu hành

Nên trì giới, cử xử, ăn uống theo đúng quy tắc trong chùa để tạo sự tôn nghiêm lịch sự, phong cách thế tục xin đừng mang vào chùa khiến người tu hành không đạt được đạo quả.

Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm là không nên tỏ ra quá cung kính và nể sợ người tu hành mà theo tôi đôi lúc phải cư xử như bình đẳng, thậm chí đôi khi còn phải nghiêm khắc với những người mới tu hành nữa mới phải. Tại vì sao? Bởi người tu hành nếu được cung kính qua sẽ dần đâm ra tự kiêu, cho rằng ta là giỏi, ta là hơn người. Còn nều suốt ngày bị xét nét, nghiêm khắc thì người tu hành sẽ luôn phải cẩn trọng trong lời nói việc làm của mình để tạo sự uy nghi để người khác còn kính tin. Cho nên việc gì mình cũng vừa phải, đừng nên kính sợ quá mà cũng đừng nên suồng sã quá.

Chấp tác trong chùa

Chẳng phải vào chùa lên lễ Phật tụng Kinh là có công đức, mà phục vụ đại chúng trong việc quét tước, nấu ăn cũng có công đức ngang như tụng Kinh vậy. Gương các Tổ Quy Sơn, Tào Khê, Tuyết Phong vẫn còn sáng đó, sao chẳng chịu tu theo, còn so đo tranh công làm gì cho phiền não. Có câu tận tâm kiệt lực phục vụ đại chúng, công đức vô lượng. Phật tử tới chùa thường làm nhiều trong nhà bếp, là nơi thường xảy ra nhiều xích mích. Người nào làm được một thời gian thì thường cho là mình có quyền này quyền nọ, việc này chỉ được mình làm, vv. Có câu thà làm ít mà thân tâm an lạc còn hơn làm nhiều mà phiền não. Các anh em tới chùa mà gặp loại này thì cứ làm lơ đi, đừng tranh giành gì. Im lặng là giới hạn tột cùng của sự khinh bỉ mà.

Giữ sự yên tĩnh cho chùa

Chùa vốn là nới thanh tịnh, yên tĩnh. Người Phật tử tới chùa nên biết ý mà giữ sự yên tĩnh, đi nhẹ, nói khẽ, giữ chính niệm. Không nên ca hát những bài hát thế tục mà nên hát những bài ca ngợi Phật, Bồ Tát. Sinh viên về sự khóa tu nên có ý thức trong việc giữ gìn sự yên tĩnh này, nên xem mình tham dự khóa tu là để tu thân, sửa đổi tính tình, xa dời sự xô bồ náo nhiệt nới phố thị để tìm về sự yên tĩnh nơi chùa chiền. Đừng nên coi khóa tu là nơi để mình tới giải trí, chỉ về cho vui. Mỗi lần về khóa tu tham dự thì tiền đi lại, ăn ở đều là tiền công đức mồ hôi nước mắt của Phật tử mười phương đóng góp, nếu chỉ thích hưởng thụ mà chẳng chịu tu học tìm hiểu thì tức là đang tự tạo nghiệp ác cho mình vậy.

Nam nữ tới chùa

Nhiều đôi trai gái tới chùa dập dìu nắm tay tình tứ, liếc mắt đưa tình thật đáng xấu hổ. Vào chùa nên giữ chính niệm, giữ khoảng cách trai gái và đặc biệt người nữ nên giữ khoảng cách với người tu hành. Nên nhớ giới dâm là có tội lớn nhất trong tất cả các tội (vạn ác dâm vi thủ), nếu phạm ở chùa thì cái tội này còn lớn lên gấp bội, đường về địa ngục chẳng còn xa nữa. Nếu không chịu được thì nên dắt nhau vào nhà…nghỉ.

Mặc áo pháp (áo tràng dài)

Lên chính điện tụng Kinh phải mặc áo pháp, ăn cơm trong nhà ăn cùng các Thầy đường cũng thế. Nhưng đi vệ sinh thì phải cởi áo pháp treo bên ngoài rồi mới bước vào WC.

Để giày dép

Giày dép phải để bên ngoài trước khi bước vào chính điện lễ Phật, nên xếp gọn gàng đầu mũi giày, dép hướng ra ngoài. Những điều này chỉ là phép lịch sự căn bản, chẳng phải vào chùa mới học mà ở nhà cũng phải thực hành. Đừng nên để phải nhắc nhiều, vì không còn bé nữa rồi.

Giày dép nếu đi vào nhà vệ sinh hoặc nơi bất tịnh mà sau đó đi qua Tam Bảo, phòng của sư trưởng, trụ trì thì sẽ mang tội bất kính, vì thế các bạn chú ý không mang dày dép đi vào nhà vệ sinh. Tôi đi một vài chùa có để ý thấy người ta còn làm cả một cái biển là không mang giày dép vào nhà vệ sinh và chuẩn bị luôn những đôi dép để ở trong đó rất là tiện.

Cách tụng Kinh

Khi vào làm lễ tụng Kinh phải mặc áo pháp, thân tâm sạch sẽ. Khi người Thầy làm chủ sám đi vào trong nơi làm lễ, Phật tử cần đứng dậy chắp tay xá chào. Trong lúc lễ thì nghe tiếng chuông , mõ làm nhịp, khi lễ thì nghe tiếng chuông mới ngẩng đầu dậy. Thường thì làm lễ đứng, nếu quỳ thì cũng phải quỳ cao người. Những người nào mới tập tụng Kinh mà không theo kịp hoặc chưa biết cách đọc thì nên biết ý đọc nhỏ và thầm trong miệng để tránh ảnh hưởng tới sự tập trung của mọi người, khi đọc cũng phải nghe xem mọi người tụng thế nào mà tụng theo. Cũng đừng nên chê người này đọc hay, người kia đọc giở. (Có câu chuyện này: Ngày xưa ở một ngôi chùa có một vị sư trẻ và một vị sư già. Vị sư trẻ có giọng đọc Kinh khá hay nhưng vị sư già thì tụng rất khó nghe. Một lần vị sư trẻ cho rằng mình tụng hay hơn nên chê vị sư già tụng Kinh nghe như tiếng chó sủa. Vị sư già nghe được nhưng không nói gì. Sau này vị sư trẻ mới biết là vị sư già đã chứng quả a la hán liền thấy ăn năn lắm và đến chỗ vị sư già xin sám hối. Mặc dù vị sư già không hề trách tội vị sư trẻ này xong vị sư trẻ đó vẫn bị đọa 500 đời làm kiếp chó, thế mới biết khẩu nghiệp khôn lường).

So sánh quy tắc ở các chùa với nhau

Có câu “Phật pháp đồng, quy củ dị”. Tức là Phật pháp giáo lý thì ở đâu cũng như nhau hết, chỉ có quy tắc lễ nghi là mỗi nơi mỗi khác, tùy vào phong tục địa phương mà thay đổi. Ví dụ khi ở Ấn Độ là xứ nóng nên các Thầy tu mặc áo hở vai phải, còn ở các nước như Trung Quốc có mùa đông lạnh thì không thể mặc như thế mà lại mặc áo trùm kín chống rét. Phật giáo đi vào địa phương nào cũng không tránh khỏi sự giao thoa với tập tục vùng miền nên có nhiều điều khác nhau tùy từng nơi chốn. Ông cha ta có câu “Nhập gia tùy tục”. Ta tới một nơi mới thì nên biết học hỏi và tuân theo tập tục của các nơi đó, nếu cứ khăng khăng làm theo thói quen ở nơi mình hay tu tập thì dễ sinh gia hiểu lầm.

Người nữ đến ngày đó có được lên chùa không?

Thế thử hỏi vị sư ni tu hành tới ngày đó thì làm sao. Tâm thanh tịnh mới quan trọng, thân cố gắng giữ thanh tịnh được là tốt, nhưng đừng nên chấp chước quá. Lên chùa cũng được, xong có thể không vào nơi chính điện, phòng Tăng.

Nghi lễ

Nghe chuông

Nghe thấy tiếng chuông thì làm việc gì cũng dừng lại, đang giảng pháp thì phải tạm ngừng, đang đi thì đứng lại, đang nằm nghỉ phải ngồi dậy, đó là quy đinh chung trong đạo Bụt.

Đọc Kinh sách

Không được dùng nước bọt lật trang sách sẽ phạm tội bất kính. hai tay cũng phải rửa sạch sẽ trước khi cầm kinh.

Cách bày ban thờ Phật

Trong Luận Đại Trí Độ có nói về việc bày ban thờ, nhưng là do tôi nghe lại nên cũng chưa biết là ở cuốn nào, cụ thể ra sao, nhưng người ta nói rằng ban thờ phải bày có đôi cân xứng, thường ở Tam Bảo các chùa có một ban trong và ban ngoài. Ban ngoài là một cái bàn không và bát hương, thường không có tượng dùng để cho người đến lễ chùa đặt lễ. Ban trong gắn liền với các pho tượng nên quy định chỉ được đặt 2 lọ hoa, 2 đĩa hoa quả (hoặc bày bánh kẹo), 2 cây đèn và bát hương ngoài ra không được đặt thêm gì hết. Các bạn tới chùa cứ thử để ý xem có đúng không.

Tuy nhiên cũng không nên cầu kỳ, ban thờ nên đặt ở độ cao từ phía thân trên của ta trở lên, hướng nào cũng được nhưng đừng hướng về nơi xú uế, lộn xộn, nơi thờ cúng nên thông thoáng, gọn gàng. Việc xem hướng, bày biện trang trí cầu kỳ phàm đều là tư tưởng của bọn ma quỷ. Chia ra đại thừa sắp thế này, tiểu thừa bày thế nọ cũng là tư tưởng của bọn ma quỷ hết. Chư Phật hiện hữu trong khắp hư không, chỉ cần đặt một pho tượng lên là đã có chư Phật chư Bồ Tát hiện tới hộ trì xung quanh và ngay trong tâm chúng ta rồi. Ban thờ chỉ là phương tiện, chỉ là hình tướng bên ngoài để hóa độ chúng sinh thôi. Việc thờ cúng Phật cũng có thể xem là mê tín trong trường hợp ta coi cái bức tượng kia là Phật thật, rằng Phật và Bồ Tát đang ngồi trên bàn thờ kia sẽ phù hộ cho con thì đó là đại mê tín. Nhưng nếu hiểu được rằng Phật và Bồ Tát hiện hữu ngay trong ta, biết thực hành chính niệm khi lễ bái, thắp hương, dâng lễ thì mới thực là có chính niệm.

Tác bạch

Đó là cách xưng hô khi mình đứng trước mọi người muốn cầu xin vị sư làm một việc gì đó. Có thẻ coi việc tác bạch như là một bài diễn văn bạn phải đọc khi làm lễ. Có thể tìm mua cuốn Văn tác bạch để tìm hiểu thêm nhé.

Mang các pháp khí, chuông mõ

Nên xá các bảo vật này một lạy rồi hãy cầm lên, vì nhờ chúng mà ta mới thành tựu được đạo nghiệp.

Lưu ý: Bài viết này được bổ sung và sửa chữa liên tục nên các bạn lưu tâm tìm đọc lại nhiều lần.

Tâm Giác

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: