Skip to content

Ý nghĩa ngày Vu Lan (Rằm tháng 7 AL)

19.08.2013
tải xuống

Ý nghĩa ngày Vu Lan (Rằm tháng 7 AL)

Truyện kể rằng, từ rất lâu lắm rồi có hai vợ chồng nhà nọ sống với nhau đã lâu mà không có con. Nhà hai ông bà nghèo lắm, nhưng họ lại hết lòng tín tâm theo Phật (đức Phật đời trước Đức Phật Thích Ca). Vào một ngày lễ nọ, hai ông bà muốn cúng dàng một ngôi chùa trong vùng xong tất cả những gì ông bà còn chỉ là một bơ thóc. Với lòng thành kính và tin tưởng Tam Bảo, hai ông bà ngồi cả đêm để bóc từng hạt thóc một, mong rằng ngày mai sẽ có một bơ gạo trắng ngần để cúng dàng Tam Bảo. Ngôi chùa gần đó có vị trụ trì là người đã tu đắc đạo, với khả năng của mình ông biết rằng ngày mai hai ông bà lão nghèo sẽ tới cúng dàng. Nhưng vì có việc phải đi xa nên ông dặn đệ tử của mình rằng: “Ngày mai có hai vị đại thí chủ tới cúng dàng một bát ngọc quý. Con ở nhà phải tiếp đón họ chu đáo nhé!”

Buổi sáng tinh mơ ngày hôm sau, hai ông bà lão nghèo, sau khi đã thức suốt đêm để bóc tách từng hạt thóc thành những hạt gạo trắng ngần, đã mang bát gạo đó tới trước cổng chùa xin gặp vị trụ trì để cúng dàng. Người đệ tử vâng lời Thầy dặn tin chắc rằng hôm nay sẽ có đại thí chủ tới cúng dàng nên rất háo hức. Nhưng đâu khi mở cổng chùa ra lại thấy hai ông bà lão nghèo rách rưới tới mà chẳng có gì ngoài bát gạo trắng. Người đệ tử thất vọng lắm và cho rằng đây không phải là vị đại thí chủ mà Thầy mình nói tới nên bảo hai ông bà lão hãy chờ ở ngoài, đợi Thầy tôi về sẽ tiếp. Hai ông bà lão vâng lời bắt đầu đứng đợi ngoài cổng.

Cả ngày hôm đó, người đệ tử đợi mãi mà không thấy có vị đại thí chủ nào tới cúng dàng một bát ngọc quý như Thầy mình nói, nghĩ rằng chắc Thầy chỉ đùa mình. Còn về phần hai ông bà lão nghèo, với tâm lòng chân thành cúng dàng nhưng bị đối xử như thế, họ đứng chờ mãi ở ngoài cổng chùa mà không thấy ai ra tiếp đón, bắt đầu sinh lòng bực tức. Tới cuối ngày, người vợ không chịu được nữa ném bát gạo xuống đất và thề nguyền rằng: “Đời này kiếp này và nhiều kiếp sau nữa, ta sẽ không bao giờ kính tin Tam Bảo nữa”. Rồi hai ông bà lão bỏ về nhà trong sự bực tức.

Vị trụ trì sau khi làm việc Phật sự trở về chùa, khi vừa nhìn thấy những hạt gạo rơi khắp cổng chùa Ngài liền hiểu ngay ra sự việc. Ngay đó Ngài liền phát một lời nguyện rằng:”Nguyện các kiếp về sau ta xin làm con của hai vợ chồng ông lão đó để đền đáp tâm chân thành bố thí cúng dàng của hai người”.

Do đã khởi tâm kính tin và hết lòng cúng dàng Tam Bảo, hai ông bà lão sau khi mất đi được tái sinh và lại trở thành vợ chồng của nhau. Kiếp trước tuy nghèo khó không đủ ăn nhưng vẫn có tâm cúng dàng bát gạo duy nhất nên kiếp này hai vợ chồng được sống trong dinh cư đồ sộ, giàu có vô cùng. Tuy nhiên, vì lời thề nguyện kiếp trước mà kiếp này tuy giàu có sung túc xong người vợ vẫn luôn uất hận và ghét bỏ những vị tăng ni. Bên ngoài bà tỏ vẻ kính tin nhưng trong tâm luôn âm thầm muộn hạ bệ thanh danh các vị tăng ni này. Có lần bà mời tăng ni về nhà thọ thực nhưng lại lén cho người bỏ các đồ ăn bất tịnh vào thức ăn, vv. Vị trụ trì năm xưa, đúng như lời phát nguyện kiếp này đầu thai làm con hai vợ chồng ông lão. Nhưng vì kiếp trước tu hành đắc đạo, kiếp này sinh ra đúng vào thời Đức Phật Thích Ca trụ thế. Nên chẳng bao lâu, người con này có duyên gặp gỡ Đức Phật và đã xuất gia. Người con đó tên là Mục Kiền Liên.

Về phần người vợ, tuy gia cảnh giàu có sung túc nhưng bà ta lại rất tham lam, bỏn xẻn, hay đánh đập ức hiếp kẻ hầu người hạ. Thế cho nên khi phúc đã hưởng hết, bà chết đi và bị đọa xuống địa ngục làm loài ngạ quỷ. Ngạ quỷ luôn phải chịu những hình phạt đau đớn, đó là bụng chúng to như cái trống  nhưng cổ họng lại bé như cây kim. Trong tâm chúng luôn đói khát và thèm muốn thứ của người khác. Mỗi lần người ta khua chén đũa, giao thớt chuẩn bị đồ ăn là chúng lại thèm thuồng đau đớn. Nhưng khắc nghiệt thay, mỗi khi loài ngạ quỷ này đưa thức ăn vào miệng thì thức ăn lại biến thành lửa than nóng thiêu đốt cổ họng muôn vạn lần đau đớn. Chính vì lẽ đó mà Phật chế khi ăn uống không được khua chén đũa vì như thế sẽ khiến loài ngạ quỷ (quỷ đói) này phải chịu đau đớn rất thương tâm.

Ngài Mục Kiền Liên, khi xuất gia theo học cùng Đức Phật thì chứng đạo, đạt được đầy đủ các loại thần thông. Một lần Ngài dùng thần thông của mình tìm kiếm xem cha mẹ mình sau khi mất đi hiện đang ở nơi nào. Ngài mới thấy rằng Mẹ đang bị chịu đày làm loài quỷ đói vô cùng khổ cực. Ngài liền dùng thần thông bay đến chỗ Mẹ, muốn bón cơm cho Người ăn. Nhưng đau xót thay, cơm đưa vào miệng liền hóa thành than lửa đau buốt, Ngài Mục Liên đau lòng lắm, liền quay về xin Đức Phật giúp đỡ cứu Mẹ mình khỏi nạn đày làm quỷ đói. Đức Phật nhân đó mới giữa đại chúng nói ra phương tiện để cứu vớt cha mẹ bị đày làm quỷ đói. Đó là hằng năm các tăng ni đều phải quy tụ tại một nơi nhất định trong ba tháng để tu học. Vào ngày cuối cùng của ba tháng tu học đó, các chư tăng hội tụ đông đủ, hãy nhân đó mà cúng dàng toàn bộ chư tăng đầu đủ 4 thứ thường dùng là y áo, thức ăn, thuốc thang, giường nằm thì lập tức cha mẹ đều được thoát khỏi cảnh ngạ quỷ. Ngài Mục Liên nghe thấy thế vô cùng mừng rỡ, liền y cứ theo lời Phật dạy mà cúng dàng chư tăng trong ngày cuối cùng của ba tháng tu tập. (Ở VN 3 tháng an cư kiết hạ đó thường bắt đầu từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7, một vài địa phương thì muộn hơn một tháng). Nhờ đó mà Mẹ ngài Mục Kiên Liên được cứu thoát khỏi cảnh ngạ quỷ và sinh lên trời. Từ đó người ta có tập tục cúng dàng chư tăng và ngày cuối cùng trong mùa an cư kiết hạ, những mong cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp trước của mình nếu lỡ đang đọa trong đường ngạ quỷ được giải thoát và sinh thiên.

Thế tại sao lại gọi là Vu lan. Tên Vu lan, chính xác gọi là Vu lan bồn. Dịch ra có nghĩa là cứu vớt những kẻ đang bị đọa dưới địa ngục và bị tội treo ngược rất khổ sở. Vì Mẹ ngài Mục Kiền Liền bị đọa làm ngạ quỷ, bị treo ngược lên nên người đời gọi việc làm của Ngài Mục Kiền Liên đó là giải cứu những người bị đọa dưới địa ngục và bị treo ngược lên. Vu Lan là tên gọi trong đạo Phật, ngày Vu Lan cũng trùng với ngày xá tội vong nhân cúng cô hồn theo phong tục Á Đông. Người Á Đông tin rằng vào ngày rằm tháng 7, cửa địa ngục được mở ra cho những kẻ đang bị đọa đày được một ngày trở về hạ giới. Người ta nhân đó mà cúng thức ăn, vàng mã cho chúng sinh cô hồn này được no đủ. Chuyện là thế.

Ngày Vu lan có tính nhân bản vì đó là ngày mà những người con bao hiếu cha mẹ, không phải cha mẹ chỉ ở kiếp này mà còn nhiều đời nhiều kiếp khác. Thế nên gọi là đại lễ Vu Lan báo hiếu.

 Tâm Giác biên soạn

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: